ĐỘT PHÁ MỚI TRONG PHÒNG BỆNH DO VI BÀO TỬ TRÙNG EHP GÂY RA TRONG NUÔI TÔM

  • 22/01/2026
  • Sự xuất hiện của EHP tạo nguy cơ lớn cho ngành tôm Việt Nam

    Đối với ngành thủy sản Việt Nam, tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đóng góp khoảng 35 – 40% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản hàng năm. Chính vì vậy, việc bảo đảm ngành nuôi tôm phát triển bền vững, an toàn và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả là yêu cầu cấp thiết, không chỉ đối với người nuôi mà còn đối với toàn bộ chuỗi giá trị ngành tôm.

    EHP gây tổn thương nghiêm trọng hệ thống gan tụy của tôm

    Gan tụy là cơ quan sống còn của tôm, có vai trò thiết yếu trong tiêu hóa, hấp thụ dinh dưỡng, dự trữ năng lượng và rất nhiều chức năng quan trọng cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm. Tuy nhiên, đây cũng là chính mục tiêu ký sinh ưa thích của vi bào tử trùng EHP.

    Hình ảnh Cấu tạo vi bào tử trùng EHP

    Khi EHP lây nhiễm vào các ống của tuyến gan tụy, chức năng tiêu hoá và hấp thụ dinh dưỡng của tôm bị suy giảm nghiêm trọng. Hệ luỵ tiếp theo là tôm sẽ không thể tiêu hóa thức, và khả năng tái tạo các biểu mô bị tổn thương cũng hạn chế, tôm dần giảm cảm giác thèm ăn, ăn yếu và chậm lớn. Tôm nhiễm EHP chỉ đạt từ 10 – 40% tốc độ tăng trưởng so với tôm ở các ao không nhiễm bệnh.

    Hình ảnh tôm nhiệm EHP

    Hình ảnh tôm nhiễm EHP

    Giải pháp phòng bệnh EHP từ hợp chất sinh học

    Với thế mạnh trong lĩnh vực công nghệ sinh học và là công ty đi đầu trong việc sử dụng các chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh cho vật nuôi. R.E.P Biotech đã chuyên tâm nghiên cứu và thử nghiệm thành công sản phẩm LOKSpo  - Một sản phẩm kết hợp giữa các hợp chất sinh học đem lại hiệu quả cao cho phòng bệnh EHP trong nuôi tôm.

    LOKSpo là sản phẩm kết hợp vi sinh và thảo dược theo công thức hoàn hảo giúp ức chế sự sinh sôi phát triển của vi bào tử trùng trong tế bào tôm, ngăn không cho EHP phân chia tạo bào tử mới. Nhờ đó, sau một thời gian sử dụng tôm có thể giảm tải mầm bệnh EHP, góp phần cải thiện tình trạng gan tuỵ và hiệu quả tăng trưởng.

    Một trong những hợp chất sinh học đặc biệt giúp kìm hãm được EHP trong LOKSpo chính là catechin.

    Catechin là một nhóm hợp chất polyphenol tự nhiên có hoạt tính sinh học mạnh, với phổ tác dụng rộng như kháng khuẩn, kháng virus, kháng nấm và đặc biệt là ức chế các loài vi bào tử trùng (Microsporidia). Các nghiên cứu cho thấy catechin, đặc biệt là EGCG (epigallocatechin gallate), có khả năng làm thay đổi tính thấm của màng tế bào, gây biến tính protein bề mặt, ức chế enzyme transpeptidase và cản trở quá trình hình thành biofilm, nhờ đó hạn chế mạnh sự phát triển của các tác nhân như Vibrio spp., hoặc các vi khuẩn cơ hội trong khối gan tuỵ tôm.

    Ngoài ra, hợp chất catechin còn gây biến tính protein của vỏ bào tử, làm suy yếu khả năng bám dính và và tồn tại của EHP trong môi trường. Ngoài tác động trực tiếp lên tác nhân gây bệnh, catechin còn đóng vai trò quan trọng trong việc tái tạo tế bào gan và điều hòa miễn dịch vật chủ, giúp tăng hoạt tính của các enzyme chống oxy hóa (SOD, CAT, GPx), giảm stress oxy hóa trong gan–tụy và cải thiện khả năng đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu.

    Hiệu quả kiểm soát EHP của LOKSpo đã được kiểm chứng

    Để kiểm chứng hiệu quả của sản phẩm lên khả năng kiểm soát EHP trong nuôi tôm R.E.P Biotech đã thực hiện nghiên cứu và cho ra kết quả cụ thể bên dưới.

    Theo kết quả nghiên cứu, việc bổ sung LOKSpo liên tục trong 14 ngày trước khi tiến hành gây bệnh và duy trì trong suốt quá trình thí nghiệm, mang lại hiệu quả phòng bệnh rất rõ rệt. Phân tích bằng phương pháp qPCR tại các thời điểm thu mẫu (ngày 21, 35 và 49 sau cảm nhiễm) cho thấy không ghi nhận tín hiệu khuếch đại đặc hiệu EHP ở tất cả các mẫu của bốn nghiệm thức (Bảng 1)

    Bảng 1. Tóm tắt kết quả qPCR phát hiện EHP ở các nghiệm thức LOKSpo tại các thời điểm thu mẫu

    Nghiệm thức

    Liều sử dụng

    Ngày 21

    Ngày 35

    Ngày 49

    Kết luận

    LOK1      

    1g/kg

    Âm tính

    Âm tính

    Âm tính

    Không nhiễm EHP

    LOK2

    2g/kg

    Âm tính

    Âm tính

    Âm tính

    Không nhiễm EHP

    LOK3

    3g/kg

    Âm tính

    Âm tính

    Âm tính

    Không nhiễm EHP

    LOK4

    4g/kg

    Âm tính

    Âm tính

    Âm tính

    Không nhiễm EHP

    Đối chứng

    0

    Dương tính

    Dương tính

    Dương tính

    Dương tính

    Kết quả mô bệnh học củng cố các dữ liệu qPCR, tôm ở tất cả các nghiệm thức bổ sung LOKSpo đều không xuất hiện dấu hiệu tổn thương mô gan–tụy do EHP. Quan sát vi thể cho thấy cấu trúc các ống gan–tụy được quan sát rõ ràng, lớp biểu mô hình trụ nguyên vẹn, bố trí đồng nhất, không có hiện tượng bong tróc, hoại tử, hay thoái hóa tế bào – những đặc điểm bệnhthường thấy ở tôm nhiễm EHP (Hình 4).

    Mô gan–tụy tôm thẻ chân trắng âm tính với Enterocytozoon hepatopenaei (EHP).

    Mẫu nhuộm Hematoxylin & Eosin (H&E) cho thấy cấu trúc ống gan–tụy (tubules) nguyên vẹn, tế bào biểu mô hình trụ đều, không xuất hiện bào tử EHP hay thể vùi đặc trưng. Không ghi nhận dấu hiệu hoại tử, bong tróc tế bào biểu mô hoặc thoái hóa ống, tương ứng với mức tổn thương G0 theo Lightner (1996). Ảnh chụp ở độ phóng đại 400×. 

    Đặc biệt, không ghi nhận sự hiện diện của bào tử vi bào tử trùng hoặc thể vùi đặc trưng của EHP trong lòng ống hay trong tế bào biểu mô. Toàn bộ mẫu được đánh giá ở mức G0, tương ứng với mô gan -tuỵ bình thường theo phân loại của Lightner (1996). Kết quả này phù hợp và nhất quán với dữ liệu qPCR âm tính tại tất cả các thời điểm thu mẫu (21, 35 và 49 ngày sau cảm nhiễm).

    LOKSpo chính là bước đột phá trong phòng bệnh EHP

    Thông qua kết quả, các nhà nghiên cứu khẳng định LOKSpo cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc phòng ngừa EHP, đồng thời góp phần duy trì cấu trúc mô gan–tụy khỏe mạnh ở tôm nuôi. Việc sử dụng LOKSpo giúp hạn chế nguy cơ cảm nhiễm EHP, đồng thời bảo vệ tính toàn vẹn của các ống gan–tụy và lớp biểu mô.

    Sau 21 ngày sử dụng LOKSpo, không ghi nhận tín hiệu EHP, đồng thời sức khỏe gan-tụy được cải thiện và khả năng tiêu hoá, hấp thụ thức ăn được tốt hơn. Ngoài ra chủng vi sinh trong LOKSpo giúp ổn định hệ vi sinh đường ruột, tăng cường khả năng đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của tôm và ổn định môi trường ao nuôi.

    Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Phước

    (Khoa Thủy sản, Trường ĐH Nông lâm – Đại học Huế)

     

    Bài viết liên quan

    • TIỀM NĂNG TO LỚN VÀ HẠN CHẾ TỪ NUÔI CHIM CÚT ĐẺ TRỨNG
      TIỀM NĂNG TO LỚN VÀ HẠN CHẾ TỪ NUÔI CHIM CÚT ĐẺ TRỨNG

      Trong nhiều năm trở lại đây, với sự phát triển của thị trường tiêu thụ trứng chim cút, nghề nuôi chim cút đẻ trứng được bà con chăn nuôi quan tâm phát triển và nhiều tấm gương chăn nuôi đã gặt hái thành công từ nghề này. Nuôi cút đẻ trứng được đánh giá còn nhiều tiềm năng tăng trưởng trong tương lai.

    • GIÁ TRỨNG TĂNG TRÊN TOÀN CẦU DO BÙNG DỊCH CÚM GIA CẦM
      GIÁ TRỨNG TĂNG TRÊN TOÀN CẦU DO BÙNG DỊCH CÚM GIA CẦM

      Dịch cúm gia cầm bùng phát nghiêm trọng ở Mỹ và Pháp đang làm thắt chặt nguồn cung trứng gia cầm trên toàn cầu và đẩy giá loại thực phẩm quan trọng này tăng vọt, trong bối cảnh xung đột ở Ukraine làm gián đoạn các chuyến hàng đến châu Âu và Trung Đông.

    • 𝗙𝗖𝗔 𝗩𝗜𝗖𝗢𝗡𝗧𝗥𝗢𝗟 – THUỐC SÁT TRÙNG ĐA NĂNG – ĐÁNH TAN VIRUS ASF
      𝗙𝗖𝗔 𝗩𝗜𝗖𝗢𝗡𝗧𝗥𝗢𝗟 – THUỐC SÁT TRÙNG ĐA NĂNG – ĐÁNH TAN VIRUS ASF

      Được nhập khẩu trực tiếp từ Anh Quốc – 𝗙𝗖𝗔 𝗩𝗜𝗖𝗢𝗡𝗧𝗥𝗢𝗟 của Kilco do R.E.P Biotech phân phối độc quyền là thuốc sát trùng phổ rộng có khả năng tiêu diệt virus ASF. Giúp hạn chế và ngăn ngừa virus ASF gây bệnh trên đàn heo.

    • BÍ QUYẾT GIÚP GÀ KHỎE MẠNH TRONG MÙA NẮNG NÓNG
      BÍ QUYẾT GIÚP GÀ KHỎE MẠNH TRONG MÙA NẮNG NÓNG

      Nhiệt độ tăng cao trong mùa nắng cũng là nguyên nhân khiến Gà bị stress làm giảm năng suất và sản lượng trứng thịt cung ứng. Vậy làm thế nào giúp gà khỏe mạnh vượt qua mùa nắng nóng?

    • Tổng quan ngành trứng Việt Nam
      Tổng quan ngành trứng Việt Nam

      Mức tiêu thụ trứng trên bình quân đầu người của Việt Nam đang thấp hơn nhiều so với thế giới, cho thấy thị trường nội địa còn tiềm năng phát triển lớn. Đây chính là cơ hội để ngành trứng bứt phá nếu tận dụng tốt lợi thế sản xuất, tăng cường liên kết chuỗi và nâng cao nhận thức người tiêu dùng.

    • 9 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN ĐÀN GÀ CỦA BẠN
      9 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN ĐÀN GÀ CỦA BẠN

      9 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN ĐÀN GÀ CỦA BẠN

    • THỊ TRƯỜNG HALAL – HƯỚNG XUẤT KHẨU MỚI CHO SẢN PHẨM CHĂN NUÔI VIỆT
      THỊ TRƯỜNG HALAL – HƯỚNG XUẤT KHẨU MỚI CHO SẢN PHẨM CHĂN NUÔI VIỆT

      Nhằm nâng cao giá trị cho sản phẩm chăn nuôi Việt Nam, xuất khẩu là hướng đi tiềm năng. Trong đó thị trường mới và còn nhiều dư địa như thị trường Halal được coi là “chìa khóa” để đẩy mạnh xuất khẩu. Bên cạnh đó, nhà nước cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ các đơn vị trong ngành theo đuổi thị trường này.

    • Khẩn trương kiểm soát, ngăn chặn các ổ dịch bệnh viêm da nổi cục
      Khẩn trương kiểm soát, ngăn chặn các ổ dịch bệnh viêm da nổi cục

      Khẩn trương kiểm soát, ngăn chặn các ổ dịch bệnh viêm da nổi cục

    • HỘI CHỨNG LẬT NGỬA & GIẢM ĐẺ TRÊN VỊT DO VIRUS TEMBUSU
      HỘI CHỨNG LẬT NGỬA & GIẢM ĐẺ TRÊN VỊT DO VIRUS TEMBUSU

      Hội chứng lật ngửa giảm đẻ ở vịt (bệnh Tembusu) xuất hiện đầu tiên ở Malaysia (1955), tiếp đến Trung Quốc (2010) bệnh mới xuất hiện ở nước ta từ năm 2019 (Đặng Hữu Anh và cs., 2020).

    • NGUYÊN NHÂN HAO HỤT THỨC ĂN TRONG THỦY SẢN
      NGUYÊN NHÂN HAO HỤT THỨC ĂN TRONG THỦY SẢN

      Thức ăn đóng vai trò rất quan trọng trong nuôi trồng thủy sản, cùng một điều kiện nuôi thì thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng chi phí chung từ 50 – 70% và có vai trò quyết định đến năng suất, sản lượng và hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản

    • DINH DƯỠNG CHO HEO THỊT TỪ SƠ SINH ĐẾN XUẤT CHUỒNG
      DINH DƯỠNG CHO HEO THỊT TỪ SƠ SINH ĐẾN XUẤT CHUỒNG

      Chế độ dinh dưỡng cho heo thịt từ sơ sinh đển heo xuất chuồng. Tìm hiểu ngay

    • ĐỘT PHÁ MỚI TRONG PHÒNG BỆNH DO VI BÀO TỬ TRÙNG EHP GÂY RA TRONG NUÔI TÔM
      ĐỘT PHÁ MỚI TRONG PHÒNG BỆNH DO VI BÀO TỬ TRÙNG EHP GÂY RA TRONG NUÔI TÔM

      Vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) bắt đầu xuất hiện và lan rộng ở Việt Nam từ năm 2016. Mặc dù EHP không gây chết hàng loạt, nhưng tác nhân này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của tôm, khiến tôm chậm lớn, kéo dài thời gian nuôi, làm giảm sản lượng và gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho người nuôi.